Sốt: triệu chứng, điều trị, phân loại, nguyên nhân

Người đăng: Admin

Ngày đăng:

Cung cấp hiểu biết cơ bản về sốt.
 
Sốt là gì.
Triệu chứng sốt
Phát hiện sốt
Thuốc và sốt
Phân độ sốt
Nguyên nhân sốt
Chẩn đoán sốt.
Sốt cao co giật ở trẻ nhỏ.
Điều trị và chăm sóc người sốt.

Sốt là

Sốt là khi nhiệt độ của cơ thể vượt trên 38oC, vượt khỏi ngưỡng nhiệt bình thường của cơ thể 37oC.
Sốt là một dấu hiệu y khoa phổ biến.
Sốt là một trong những cách hiệu quả cơ thể chống lại sự nhiễm khuẩn.
 
Tên gọi khác có thể gọi là sốt hoặc tăng thân nhiệt.
 
Khi nhiệt độ cơ thể lên cao thì cơ thể có thể cảm thấy lạnh cho đến khi nhiệt hạ nhiệt hoặc nhiệt độ không còn tăng thêm.
 
Nhiệt độ cơ thể của một người bình thường có thể thay đổi và chịu nhiều tác động từ bên ngoài như ăn uống, vận động, ngủ, và giờ trong ngày.
Nhiệt độ cơ thể chúng ta sẽ thường cao nhất vào 6 giờ tối và thấp nhất vào 3 giờ sáng.
 
Khi thân nhiệt lên cao, hoặc là sốt, là một cách cho thấy hệ miễn dịch của đang chiến đấu chống lại quá trình nhiễm khuẩn. Thường thì khi nhiệt độ cơ thể lên cao sẽ hỗ trợ cơ thể giải quyết quá trình nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, trong một số trường hợp thì khi nhiệt độ lên quá cao, sốt trở nên nghiêm trọng sẽ dẫn đến nhiều vấn đề phức tạp.
Các bác sĩ cho rằng khi sốt ở ngưỡng vừa phải thì không cần thiết phải hạ sốt, sốt khi đó có thể là giúp chống lại vi khuẩn và virus gây ra sự nhiễm khuẩn.
Thuốc giúp làm hạ thân nhiệt khi sốt gọi là thuốc hạ sốt. Khi sốt gây ra quá nhiều sự khó chịu và sốt cao thì nên dùng thuốc hạ sốt.
 
Khi nhiệt đọ đạt tới ngưỡng 38 độ C (100.4 độ F) thì không còn được coi là sốt nhẹ, nhiệt độ khi đó nên được kiểm tra mỗi 2 giờ/lần.
 
Kiểm tra nhiệt độ cơ thể có thể qua:
Đường miệng, bằng cách ngậm nhiệt kế trong miệng.
Kiểm tra nhiệt độ trong tai, trên trán.
Thường thì kiểm tra nhiệt độ tại nách, nhiệt độ đo được ở nách và miệng thường thấp hơn nhiệt độ thật của cơ thể là 0.2 - 0.3 độ C.
 
 

Triệu chứng Sốt:

Khi cơ thể sốt, triệu chứng sốt thể hiện quá trình Bệnh, có thể sốt đơn độc hoặc bao gồm các triệu chứng bệnh lý khác.

Kiểm tra nhiệt độ cơ thể có thể bằng nhiệt kế để phát hiện sốt.
Đường miệng, bằng cách ngậm nhiệt kế trong miệng.
Kiểm tra nhiệt độ trong tai, trên trán.
Thường thì kiểm tra nhiệt độ tại nách, nhiệt độ đo được ở nách và miệng thường thấp hơn nhiệt độ thật của cơ thể là 0.2 - 0.3 độ C.
 
Có thể phát hiện sốt khi:
 
  • Cảm thấy lạnh, ớn lạnh, gai rét trong khi những người khác không thấy.
  • Run rẩy
  • Đau đầu
  • Đau cơ
  • Cảm thấy yếu đuối.
  • Chán ăn
  • Mất nước - có thể phòng bằng cách uống thêm nước.
  • Cảm tháy buồn phiền, chán nản.
  • Tăng cảm, hoặc tăng sự nhạy cảm với đau.
  • Thờ ơ, hoặc ngủ li bì.
  • Khó tập trung.
  • Buồn ngủ.
  • Vã mồ hôi.
 Nếu nhiệt độ lên cao có thể dẫn đến li bì, mê sảng, co giật.
 
Các rối loạn chức năng khác kèm theo khi sốt:
Nhịp tim tăng 10 - 15 lần/phút khi nhiệt độ cơ thể tăng 1 oC.
Nhịp thở tăng 2 -3 lần/phút khi nhiệt độ cơ thể tăng 1 oC.
Nước tiểu: ít đi, sẫm, mùi khai hơn.
 
Tìm hiểu về cơ chế sinh lý sốt, hạ sốt, cơ chế sốt tại đây.
 
 

Thuốc và sốt.

Các thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) như là aspirin, ibuprofen, paracetamol có thể là hạ nhiệt. Những thuốc này thường có sẵn ở các quầy thuốc.
Tuy nhiên với sốt nhẹ, có thể quá trình chống nhiễm khuẩn đang diễn ra, thường không nên dùng thuốc hạ sốt khi sốt nhẹ.
 
Nếu sốt do nhiễm khuẩn cá bác sĩ sẽ kê thêm thuốc kháng sinh.
Nếu sốt do nhiễm lạnh hoặc do virus, các thuốc nhóm NSAIDs có thể làm giảm tình trạng khó chịu trong khi kháng sinh không thể chống lại được virus.

 
Phân độ Sốt:

Theo nhiệt độ.

  • Mức thấp, từ 100.5–102.1°F or 38.1–39°C
  • Mức trung bình, từ 102.2–104.0°F or 39.1–40°C
  • Mức cao từ 104.1–106.0°F to or 40.1-41.1°C
  • Sự tăng thân nhiệt, trên 106.0°F or 41.1°C
Nhiệt độ sốt có thể cho phép nhận diện loại hoặc nguyên nhân gây sốt.

Theo thời gian:

Sốt cấp tính - ngắn ngày, diễn ra dưới 7 ngàyzz
Sốt bán cấp, kéo dài đến 14 ngày.
Sốt mãn tính - sốt kéo dài, nếu sốt quá 14 ngày.
 

Nguyên nhân sốt.

  • Nhiễm khuẩn: vi khuẩn, virus.
  • Các tình trạng viêm.
  • Tác dụng phụ của thuốc.
  • Ung thư.
  • Vaccine
  • Do bệnh tự miễn.
Nguyên nhân khác:
  • Bệnh rối loạn hormone như cường giáp.
  • Ở dưới nắng quá lâu, say nắng, cháy nắng.
  • Shock nhiệt - diễn ra khi tiếp xúc với nhiệt độ nóng quá lâu hoặc vận đọng trong mạnh trong thời gian quá dài.
  • Mất nước.
  • Bệnh phổi silic, bệnh lý ở phổi do tiếp xúc với bội silica dài ngày.
  • Nhiễm ký sinh trùng.
  • Dùng chất kích thích, gây nghiện.
  • Cai rượu.
 

Chẩn đoán sốt

Dù cho việc phát hiện ra sốt khá dễ dàng thì việc tìm ra nguyên nhân sốt có thẻ khá khó khăn.
Tùy theo kết quả thăm khám, triệu chứng, bệnh lý, và thuốc và vùng dịch tễ nơi người bệnh đã tới.
Đội khi sốt diễn ra không có nguyên nhân, sự bất thường và tình trạng nhiễm khuẩn mạn tính cũng như những rối loạn bệnh lý và ung thư diễn ra.
 

Thuốc hạ sốt.

Thuốc hạ sốt phổ biến nhất là paracetamol hoặc acetaminophen và các thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) như là aspirin, ibuprofen, paracetamol có thể là hạ nhiệt.
Trẻ nhỏ và thanh niên không nên dùng aspirin để hạ sốt vì liên quan đến hội chứng Reye.
Tuy nhiên với sốt nhẹ, có thể quá trình chống nhiễm khuẩn đang diễn ra, thường không nên dùng thuốc hạ sốt khi sốt nhẹ.
 
Nếu sốt do nhiễm khuẩn cá bác sĩ sẽ kê thêm thuốc kháng sinh.
Nếu sốt do nhiễm lạnh hoặc do virus, các thuốc nhóm NSAIDs có thể làm giảm tình trạng khó chịu trong khi kháng sinh không thể chống lại được virus.
 

Điều trị sốt.

Sốt là một phản xạ phòng thủ của cơ thể nhằm chống lại sự nhiễm khuẩn. Bản chất của sốt thường không gây hại nhưng khi sốt quá cao thì gây ra nhiều hậu quả.
Đây là những cách giúp bạn cảm thấy dễ chịu hơn khi sốt.
  • Uống nhiều nước hơn nhằm hạn chế sự mất nước, dùng nước oresol là tốt nhất.
  • Ăn nhẹ, ăn đồ ăn dễ tiêu.
  • Nghỉ ngơi nhiều hơn.
  • Dùng thuốc hạ sốt đúng liều, đúng cân nặng, đúng cách đặc biệt với trẻ nhỏ.
  • Tắm nước ấm
  • Mặc đồ thoáng khí
 
Tìm hiểu kỹ hơn về điều trị sốt tại đây.
 
Nhanh chóng tới bác sĩ khi sốt cao 40oC hoặc có một trong các triệu chứng sau:
  • Co giật
  • Mê man, bất tỉnh.
  • Lờ đờ
  • Cứng cổ
  • Khó thở
  • Đau dữ dội ở bất kỳ đầu trên cơ thể.
  • Dịch âm đạo thay đổi hoặc mất màu hoặc có mùi khó chịu.
  • Tiểu buốt, tiểu có mùi khó chịu.
 

Sốt cao co giật ở trẻ nhỏ



Trẻ nhỏ khi sốt ở nhiệt độ cao có thể gây ra co giật do sốt, thường thì co giật sẽ diễn ra không quá nghiêm trọng hoặc diễn ra trong bệnh cảnh có nhiễm khuẩn ở tai - viêm tai, viêm dạ dày ruột, nhiễm khuẩn hô hấp do virus hoặc nhiễm lạnh.
Những trường hợp hiếm hơn sốt cao co giật có thể gây ra bởi nhiễm ký sinh trùng, viêm thân, viêm phổi.
Co giật thường xảy ra khi nhiệt độ cơ thể tăng quá nhanh hơn là nhiệt độ cơ thể tăng cao và thời gian dài. Co giật do sốt cao thường là co giật đơn thuần diễn ra trong thời gian ngắn.
Do đó khi trẻ có sốt nhiệt độ trên 38oC nên theo dõi nhiệt độ mỗi 2 lần/ giờ và dùng thuốc hạ sốt đúng cách, đúng liều khi nhiệt độ cơ thể trên 38.5oC
Tìm hiểu thêm về co giật do sốt cao ở trẻ nhỏ ở đây


Dr. Nguyễn Thị Ngọc Minh
Nguồn.
Harard Health
NHS.
Webmd
Medicalnewstoday